Công văn 3934/UBND-TM

Công văn 3934/UBND-TM điều hành ngân sách những tháng cuối năm 2013 do tỉnh Lào Cai ban hành

Nội dung toàn văn Công văn 3934/UBND-TM năm 2013 điều hành ngân sách tháng cuối 2013 Lào Cai


ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 3934/UBND-TM
V/v: Điều hành ngân sách những tháng cuối năm 2013

Lào Cai, ngày 11 tháng 10 năm 2013

 

Kính gửi:

- Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và ĐT;
- Cục Thuế, Cục Hải quan;
- Kho bạc Nhà nước;
- Các đơn vị dự toán ngân sách tỉnh;
- Các chủ đầu tư của ngân sách tỉnh;
- Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố.

 

Thực hiện Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 24/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách năm 2013; Văn bản số 1025/KTTH-TTg ngày 16/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện ngân sách nhà nước năm 2013; Chỉ thị số 02/CT-BTC ngày 08/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về tăng cường công tác quản lý thu ngân sách để đảm bảo thực hiện dự toán thu ngân sách năm 2013; văn bản số 8552/BTC-ĐT ngày 03/7/2013, văn bản số 11068/BTC-ĐT ngày 20/8/2013 và số 11473/BTC-ĐT ngày 28/8/2013 của Bộ Tài chính về thanh toán, giải ngân kế hoạch vốn đầu tư XDCB năm 2013; văn bản số 11276/BTC-NSNN ngày 23/8/2013 và văn bản số 12067/BTC-HCSN ngày 10/9/2013 về một số giải pháp điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm 2013, UBND tỉnh yêu cầu các Sở quản lý chuyên ngành; UBND các huyện, thành phố; các chủ đầu tư; các đơn vị dự toán, thực hiện các giải pháp, nhiệm vụ trong quản lý điều hành công tác tài chính - ngân sách, thanh toán và giải ngân vốn đầu tư những tháng cuối năm 2013 như sau:

I. Về tăng cường công tác quản lý thu NSNN:

1. Trong tháng 10/2013, UBND các cấp quyết định thành lập Ban chỉ đạo đôn đốc thu, chống thất thu ngân sách do đồng chí Chủ tịch UBND trực tiếp làm trưởng ban (gọi tắt là Ban chỉ đạo). Tùy điều kiện cụ thể, các Ban chỉ đạo thành lập Tổ chuyên viên giúp việc để tham mưu trong công tác chỉ đạo, điều hành thu ngân sách. Thành phần Ban chỉ đạo giao cơ quan Tài chính chủ trì phối hợp các ngành quản lý chức năng tham mưu cho UBND cùng cấp quyết định. Ban chỉ đạo các cấp có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc công tác quản lý thu ngân sách, tổ chức các đoàn công tác làm việc với các địa bàn, đơn vị có số thu lớn để rà soát từng khoản thu, nhằm đôn đốc thu nộp đầy đủ, kịp thời các khoản thu phát sinh vào ngân sách nhà nước (NSNN).

2. Các cơ quan quản lý chức năng liên quan tăng cường thực hiện Quy chế phối hợp thu ngân sách theo quy định của UBND tỉnh.

3. Cơ quan Tài chính, Thuế, Hải quan các cấp theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình thu ngân sách, tăng cường công tác phân tích, đánh giá nguồn thu, từ đó xác định cụ thể các nguồn thu còn tiềm năng, các giải pháp quản lý hiệu quả để kịp thời đề xuất, tham mưu cho UBND các cấp và Ban chỉ đạo trong chỉ đạo, điều hành nhiệm vụ thu NSNN. Trong đó, tăng cường công tác thu tiền sử dụng đất và thu từ lĩnh vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh, phấn đấu hoàn thành vượt dự toán HĐND tỉnh giao. Định kỳ, 10 ngày Cục Thuế, Cục Hải quan, UBND các huyện, thành phố tổng hợp báo cáo UBND tỉnh, Ban chỉ đạo tỉnh, Sở Tài chính về kết quả cũng như những khó khăn vướng mắc và đề xuất các giải pháp khả thi để triển khai công tác quản lý thu NSNN trên địa bàn.

4. Cơ quan Thuế, Hải quan tăng cường giám sát chặt chẽ đối tượng nộp thuế. Theo dõi sát sao việc kê khai thuế của các doanh nghiệp có số thu lớn, tăng cường phối hợp rà soát đối chiếu việc quản lý đối tượng nộp thuế kê khai, nộp thuế vãng lai, yêu cầu kê khai đúng số phát sinh. Giám sát chặt chẽ nguồn thu ngân sách, tập trung rà soát việc kê khai của các tổ chức, cá nhân, kịp thời phát hiện các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp để có biện pháp chấn chỉnh.

Thực hiện việc xử lý miễn, giảm, giãn thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất kịp thời, đúng đối tượng, đúng chính sách pháp luật của nhà nước. Tăng cường công tác hậu kiểm; thực hiện việc công khai minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng nộp thuế.

5. Cơ quan Thuế, Hải quan tăng cường quản lý và đôn đốc thu nợ thuế, nợ tiền cấp quyền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật:

- Cơ quan thuế các cấp theo dõi, giám sát chặt chẽ thường xuyên sự biến động của các khoản nợ thuế, tập trung rà soát để phân loại đúng các khoản nợ thuế, đối tượng nợ thuế, từ đó áp dụng đồng bộ các biện pháp thu hồi nợ đọng thuế, đôn đốc, cưỡng chế nợ thuế theo đúng thủ tục, trình tự quy định của pháp luật, không để phát sinh số nợ thuế mới. Xác định cụ thể từng trường hợp nợ thuế để phân loại, có biện pháp thu hồi nợ phù hợp, trường hợp người nộp thuế thuộc đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định tại Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế thì phải thực hiện cưỡng chế thu theo quy định. Phối hợp chặt chẽ với Kho bạc Nhà nước các cấp, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, cơ quan Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, các chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án đầu tư XDCB... trong công tác thu hồi tiền thuế nợ đọng vào ngân sách. Phấn đấu giảm dưới mức quy định về tỷ lệ nợ thuế quá hạn.

- Cơ quan Hải quan tăng cường công tác đôn đốc, thu hồi nợ đọng, rà soát các doanh nghiệp có nợ thuế quá hạn lớn, phân loại, lập danh sách các doanh nghiệp có độ rủi ro cao để theo dõi và có biện pháp quản lý chặt chẽ. Đồng thời, cần theo dõi chặt chẽ các khoản nợ thuế tạm thu của các doanh nghiệp nhập khẩu theo loại hình nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu và kiểm tra thời hạn kết thúc của từng hợp đồng gia công để thực hiện thanh khoản theo quy định và yêu cầu doanh nghiệp thanh khoản nộp thuế đối với số hàng hóa chuyển tiêu thụ nội địa... Thực hiện phối hợp với các Ngân hàng thương mại, Công an, các cơ quan pháp luật có liên quan trong việc xử lý trong công tác thu hồi nợ. Phấn đấu đến 31/12/2013 số nợ thuế xuất nhập khẩu chuyên thu quá hạn không vượt quá 2,5% so với tổng số thu.

6. Cơ quan Thuế, Hải quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, chống thất thu; phối hợp với các cơ quan chức năng trong chống buôn lậu và gian lận thương mại:

- Cơ quan Thuế các cấp phấn đấu hết năm 2013 thanh tra, kiểm tra đạt tối thiểu 15% số doanh nghiệp đang quản lý thuế, trong đó thanh tra đạt tối thiểu 2% số doanh nghiệp đang quản lý thuế và kiểm tra tại doanh nghiệp đạt tối thiểu 13% số doanh nghiệp đang quản lý thuế; tổ chức rà soát toàn bộ hồ sơ khai thuế, tập trung phân tích, xác định các lĩnh vực rủi ro để tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra như: đấu tranh chống chuyển giá; thực hiện chính sách ưu đãi thuế; giao dịch thanh toán qua ngân hàng có dấu hiệu nghi ngờ; khai thác khoáng sản; bất động sản; kinh doanh du lịch, dịch vụ,... Thu hồi kịp thời số tiền phát hiện qua thanh tra, kiểm tra vào ngân sách nhà nước, phấn đấu số thuế truy thu thực nộp vào ngân sách đạt 100% số thuế phát hiện tăng thêm.

- Trong 3 tháng cuối năm, cơ quan Thuế các cấp tập trung thanh tra, kiểm tra việc khấu trừ, hoàn thuế đối với các doanh nghiệp có rủi ro cao đã được hoàn thuế, đặc biệt các doanh nghiệp kinh doanh hàng nông sản xuất khẩu, doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu hàng hóa qua biên giới đất liền; ngăn chặn đẩy lùi các thủ đoạn gian lận thuế mới, lợi dụng chính sách hoàn thuế để chiếm đoạt tiền thuế. Tổ chức rà soát lại toàn bộ số đối tượng nộp thuế có số hoàn thuế lớn, phát sinh liên tục, rủi ro cao để tập trung kiểm tra hoàn thuế, kết hợp kiểm tra hoàn thuế với kiểm tra, thanh tra toàn diện hoạt động sản xuất, kinh doanh và nghĩa vụ thuế với nhà nước. Khi phát hiện các trường hợp đề nghị hoàn thuế sai, cơ quan Thuế có biện pháp truy thu ngay tiền thuế vào ngân sách nhà nước, nếu có yếu tố cấu thành tội phạm thì chuyển cơ quan có chức năng điều tra truy cứu trách nhiệm hình sự. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, chống thất thu về số hộ, về doanh số.

- Cơ quan Thuế phải thường xuyên, chủ động phối hợp với các cơ quan quản lý chức năng của địa phương để tăng cường công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái và cưỡng chế thu hồi thuế; kiểm tra việc niêm yết giá và bán theo giá niêm yết tại các chợ, các trung tâm thương mại, các cửa hàng dược phẩm...; Phối hợp kiểm tra phát hiện và xử lý các trường hợp hàng vận chuyển trên đường không có hóa đơn, chứng từ, quay vòng hóa đơn, hàng lậu, hàng giả nhằm ngăn chặn và chống thất thu ngân sách.

- Cơ quan Hải quan tăng cường kiểm tra công tác tham vấn, xác định trị giá, xây dựng danh mục quản lý rủi ro về giá và thực hiện cập nhật dữ liệu để kịp thời phát hiện các trường hợp thực hiện không đúng quy định, đồng thời tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong công tác quản lý giá tại các đơn vị, qua đó ngăn chặn kịp thời các hành vi gian lận qua áp giá, áp mã tính thuế, tập trung vào những mặt hàng có thuế suất cao, kim ngạch xuất nhập khẩu lớn, các trường hợp miễn, giảm, hoàn thuế; đặc biệt tập trung kiểm tra các hàng hóa nhập khẩu thuộc diện miễn thuế theo các dự án đầu tư. Tăng cường kiểm tra sau thông quan nhằm phát hiện kịp thời các sai sót và các hành vi gian lận, trốn thuế của Doanh nghiệp; phấn đấu kết quả thu qua công tác kiểm tra sau thông quan năm 2013 đạt kết quả cao nhất. Nâng cao công tác kiểm tra, kiểm soát hải quan, chống buôn lậu, gian lận thương mại, ngăn chặn, bắt giữ, xử lý kịp thời các vụ việc buôn lậu, không để xảy ra các vụ việc lớn, vụ việc nổi cộm, mang tính chất đường dây. Tập trung đấu tranh, phát hiện, bắt giữ đối với các hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép qua biên giới: ma túy, vũ khí, chất nổ, hàng hóa vi phạm môi trường, tài liệu phản động... đảm bảo an ninh quốc gia.

- Cơ quan Thuế, Hải quan, Kho bạc Nhà nước tổ chức thực hiện nghiêm túc các kết luận của cơ quan Kiểm toán, Thanh tra. Truy thu đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước đối với số tiền phát hiện qua thanh tra, kiểm toán.

- Cơ quan tài chính các cấp chủ động phối hợp với các ngành quản lý chức năng, đơn vị liên quan trong việc tham mưu cho Ban chỉ đạo cùng cấp tháo gỡ kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong thực hiện dự toán thu tiền sử dụng đất, tiền phí, lệ phí và thu khác của ngân sách trên địa bàn.

II. Về quản lý và giải ngân các nguồn vốn đầu tư và có tính chất đầu tư XDCB:

1. Trong quá trình quản lý, điều hành, các Sở, ngành quản lý chức năng, UBND các huyện, thành phố, các chủ đầu tư căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao thường xuyên rà soát, nắm bắt các khó khăn vướng mắc, bất cập trong công tác Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản để có đề xuất báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, tháo gỡ kịp thời.

2. Tất cả các dự án sử dụng vốn NSNN, vốn trái phiếu Chính phủ chỉ được thực hiện khối lượng theo mức vốn kế hoạch được giao để không gây nợ đọng XDCB.

3. Việc thanh toán, tạm ứng vốn đầu tư từ các nguồn vốn NSNN, vốn trái phiếu Chính phủ phải căn cứ vào kế hoạch vốn được giao trong năm và khối lượng thực hiện. Chỉ thanh toán và tạm ứng lần sau khi đã thanh toán khối lượng hoàn thành lần trước.

- Việc tạm ứng theo hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu thực hiện theo quy định hiện hành; tổng mức vốn tạm ứng của các hợp đồng thực hiện trong năm tối đa là 30% tổng số kế hoạch vốn giao cho dự án (bao gồm cả điều chỉnh tăng, giảm vốn bố trí trong năm cho dự án).

- Việc tạm ứng vốn cho đền bù, giải phóng mặt bằng thực hiện theo quy định tại Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 của Bộ Tài chính.

- Đối với các dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn của các Bộ, ngành Trung ương và vốn bổ sung có mục tiêu của NSTW cho tỉnh:

+ Kho bạc Nhà nước các cấp có trách nhiệm kiểm soát thanh toán theo thông báo vốn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.

+ Trước ngày 15/10/2013, Kho bạc nhà nước tỉnh tổng hợp, gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính báo cáo tiến độ giải ngân vốn cho các dự án sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ, vốn bổ sung có mục tiêu của NSTW được giao dự toán đầu năm như sau: Các dự án khởi công mới đến ngày 30/6/2013 chủ đầu tư chưa đến cơ quan Kho bạc triển khai thủ tục thanh toán như: Chưa mở tài khoản giao dịch, chưa chọn thầu, chưa ký hợp đồng; các dự án chuyển tiếp đến ngày 30/6/2013 chủ đầu tư chưa gửi cơ quan Kho bạc hồ sơ nghiệm thu khối lượng hoàn thành. Trường hợp các chủ đầu tư đã triển khai các thủ tục, hồ sơ nhưng chưa kịp gửi đến cơ quan Kho bạc hồ sơ đề nghị giải ngân, thì chủ đầu tư phải có cam kết về những nội dung công việc đó và chịu trách nhiệm về những nội dung đã cam kết với Kho bạc Nhà nước.

Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính tổng hợp báo cáo UBND tỉnh và đề xuất giải pháp báo cáo Chính phủ và các Bộ đối với số vốn bị dừng giải ngân của các dự án này.

- Đối với các dự án đầu tư, bằng các nguồn vốn đầu tư và có tính chất đầu tư của tỉnh (vốn ngân sách tập trung, vốn từ nguồn thu tiền SD đất, vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư, vốn ủng hộ đóng góp chi có tính chất đầu tư, vốn tín dụng ưu đãi...): Các dự án khởi công mới đến trước 15/11/2013 chủ đầu tư chưa đến cơ quan Kho bạc làm thủ tục giải ngân, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, căn cứ nhiệm vụ giao quản lý theo nguồn vốn, tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh điều chỉnh vốn cho các dự án khác dự kiến có khối lượng thực hiện vượt so với kế hoạch vốn đã được bố trí.

4. Đối với các dự án đã được bố trí kế hoạch vốn từ nguồn thu tiền sử dụng đất, nếu số thu giảm so dự toán, cơ quan Tài chính, Kế hoạch các cấp phải chủ động đề xuất với UBND cùng cấp các danh mục cắt giảm hoặc giãn tiến độ thực hiện công trình, dự án được bố trí vốn từ nguồn thu này.

III. Về quản lý và giải ngân các nguồn vốn chi thường xuyên của ngân sách:

Ngoài việc tiếp tục thực hiện nghiêm túc quy định theo Chỉ thị số 09/CT- TTg ngày 24/5/2013 của Chính phủ; các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính; Chỉ thị số 10/CT-UBND ngày 12/6/2013 của UBND tỉnh, UBND các cấp và các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện các nhiệm vụ sau:

1. Các khoản, kinh phí mua sắm, sửa chữa được UBND các cấp giao theo dự toán đầu năm, chưa thực sự cấp bách, cần thiết hoặc đến 30/9/2013 chưa phê duyệt dự toán, chưa được phê quyệt kế hoạch đấu thầu thì tạm dừng, chuyển năm 2014 thực hiện. Trường hợp khoản kinh phí mua sắm, sửa chữa đó chưa thực hiện được vì lý do khách quan những yêu cầu bắt buộc phải hoàn thành trong năm 2013, các cơ quan, đơn vị phải có văn bản gửi cơ quan Tài chính để tổng hợp, đề xuất với UBND cùng cấp xem xét quyết định.

2. Thực hiện tiết kiệm triệt để trong sử dụng văn phòng phẩm, chi tổ chức hội nghị, hội thảo, lễ hội, khánh tiết:

- Không tổ chức các hội nghị, hội thảo có nội dung không thiết thực. Chuẩn bị kỹ các nội dung hội nghị, hội thảo và lồng ghép hợp lý các nội dung để rút ngắn thời gian tổ chức. Tăng cường sử dụng hình thức họp trực tuyến trong chỉ đạo điều hành và xử lý các công việc.

- Hạn chế phô trương, hình thức trong tổ chức các lễ tổng kết, đón nhận danh hiệu thi đua, kỷ niệm ngày thành lập ngành, lễ ký kết, lễ khởi công...

- Tổ chức các đoàn thanh tra, kiểm tra xuống cấp dưới phải đảm bảo thiết thực, chuẩn bị chu đáo đề cương, nội dung kiểm tra để tiết kiệm chi phí của cơ quan, đơn vị cấp dưới.

- Không sử dụng ngân sách nhà nước cho các đoàn đi tham quan, khảo sát, học tập ở trong và ngoài nước, trừ các trường hợp đặc biệt được UBND tỉnh cho phép.

2. Đối với các khoản chi theo mục 1, 2 trên đây (nếu có), cơ quan Tài chính tổng hợp, gửi cơ quan Kho bạc nhà nước trước ngày 20/10/2013 để làm căn cứ kiểm soát chi ngân sách.

3. Các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí tiếp tục tiết kiệm 10% từ nguồn thu phí, lệ phí (trừ học phí, viện phí) được để lại cơ quan, đơn vị theo quy định, cụ thể:

Số tiền thu phí, lệ phí tiết kiệm = (dự toán chi từ nguồn thu phí - các khoản tiền lương, tiền công và chi khác cho con người theo chế độ được bố trí từ nguồn thu phí, lệ phí)/12 tháng x 5 tháng x 10%.

Các cơ quan, đơn vị báo cáo về cơ quan tài chính trước ngày 18/10 phương án tiết kiệm như trên gồm: Số tiền tiết kiệm, các khoản chi cắt giảm. Trước ngày 20/10, cơ quan tài chính thẩm định, ra thông báo số tiền tiết kiệm 10% từ nguồn thu phí, lệ phí được để lại cơ quan, đơn vị, gửi cơ quan, đơn vị thu phí, đồng thời gửi cơ quan Kho bạc để kiểm soát.

UBND các huyện, thành phố gửi báo cáo số liệu, nội dung chi cắt giảm do tiết kiệm 10% số thu phí, lệ phí được để lại đơn vị về Sở Tài chính trước ngày 18/10;

Sở Tài chính tổng hợp, tham mưu cho UBND tỉnh báo cáo Chính phủ, Bộ Tài chính trước ngày 20/10.

Trên đây là chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh về giải pháp, nhiệm vụ trong điều hành tài chính - ngân sách, thanh toán và giải ngân vốn đầu tư năm 2013 của tỉnh Lào Cai theo quy định của Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Tài chính. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị các cơ quan, đơn vị, UBND các huyện, thành phố phản ánh về Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh biện pháp giải quyết./.

 

 

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH




Nguyễn Văn Vịnh

 

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Công văn 3934/UBND-TM

Loại văn bảnCông văn
Số hiệu3934/UBND-TM
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành11/10/2013
Ngày hiệu lực11/10/2013
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcTài chính nhà nước
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
Cập nhật11 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Công văn 3934/UBND-TM

Lược đồ Công văn 3934/UBND-TM năm 2013 điều hành ngân sách tháng cuối 2013 Lào Cai


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Công văn 3934/UBND-TM năm 2013 điều hành ngân sách tháng cuối 2013 Lào Cai
                Loại văn bảnCông văn
                Số hiệu3934/UBND-TM
                Cơ quan ban hànhTỉnh Lào Cai
                Người kýNguyễn Văn Vịnh
                Ngày ban hành11/10/2013
                Ngày hiệu lực11/10/2013
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcTài chính nhà nước
                Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
                Cập nhật11 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được căn cứ

                    Văn bản hợp nhất

                      Văn bản gốc Công văn 3934/UBND-TM năm 2013 điều hành ngân sách tháng cuối 2013 Lào Cai

                      Lịch sử hiệu lực Công văn 3934/UBND-TM năm 2013 điều hành ngân sách tháng cuối 2013 Lào Cai

                      • 11/10/2013

                        Văn bản được ban hành

                        Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                      • 11/10/2013

                        Văn bản có hiệu lực

                        Trạng thái: Có hiệu lực